Support Online
 
 
 

Bệnh Trầm Cảm


      Bệnh trầm cảm - số đặc biệt VTV2

   
  Phóng sự Trầm cảm che giấu (trầm cảm ẩn) -O2TV


1. Đại cương về bệnh trầm cảm
Trầm cảm là một bệnh rối loạn cảm xúc biểu hiện lâm sàng là một trạng thái cảm xúc buồn rầu, chán chường, u uất. Bệnh có thể xẩy ra ở mọi lứa tuổi nhưng hay gặp nhất ở tuổi từ 18-45,phụ nữ mắc nhiều hơn nam giới. Theo tổ chức y tế thế giới bệnh trầm cảm cướp đi mỗi năm 850.000  mạng người. Đến năm 2020 trầm cảm là căn bệnh xếp thứ 2 trong số những căn bệnh phổ biến toàn cầu với 121 triệu người mắc bệnh nhưng chỉ có 25% số đó được điều trị kịp thời và đúng phương pháp.  Tỷ lệ mắc bệnh  trầm cảm rõ rệt  chiếm khoảng  3-5% dân số. Trầm cảm giai đoạn đầu biểu hiện là một trang thái suy nhược thần kinh như mệt mỏi vào buổi sáng, đầu óc trì trệ , uể oải...
2. Triệu chứng lâm sàng bệnh trầm cảm. Theo ICD-10 ( phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10), bệnh nhân trầm cảm có những triệu chứng sau:

a. Khí sắc giảm. Vẻ mặt buồn rầu, nét mặt của họ trở nên đơn điệu, ánh mắt chậm chạp, lơ đãng.
b. Giảm hoặc mất sự quan tâm thích thú. Những thích thú trước đây của bệnh nhân bị giảm hoặc mất. Ví dụ trước bệnh nhân rất thích xem bóng đá, đi chợ mua sắm thì bây giờ họ không thích nữa.
c. Người mệt mỏi. Họ rất khó khăn để khởi động một công việc nào đó, dù những công việc nhỏ nhất. ví dụ buổi sáng ngủ dậy việc vệ sinh cá nhân như đáng răng sửa mặt đối với họ cũng trở nên nặng nhọc.
d. Giảm tính tự trọng và lòng tự tin. Người bệnh mất tự tin vào bản thân và họ cảm thấy thất bại trong cuộc sống.
e. Nhìn tương lai ảm đạm bi quan. Họ cảm thấy nảm lòng về tương lai và không có gì mong đợt ở tương lai cả. Con người sống được là họ cảm thấy cuộc đời có ý nghĩa, có tương lai. Nhưng với bệnh nhân trầm cảm tương lai họ là một mầu xám vì vậy họ hay tìm đến cái chết.
f. Giảm sự tập trung chú ý. Khó suy nghĩ, khó tập trung vào một việc nào đó, khó đưa ra những quyết định dù là những quyết định nhỏ nhất ví dụ đi chợ mua gì cho bữa tối… người bệnh cũng rất khó khăn để đưa ra quyết định.
g. Ý tưởng bị tội và không xứng đáng. Người bệnh có cảm giác vô dụng hoặc tội lỗi. Họ luôn nghĩ mình đã làm hỏng mọi việc. và họ đã trở thành gánh nặng cho gia đình, cơ quan và xã hội. họ còn phóng đại những sai lầm nhỏ trước đây. và họ luôn luôn tự trách bản thân mình.
h. Có ý tưởng và hành vi tự sát. Hầu hết bệnh nhân trầm cảm đều có những ý nghĩ về cái chết. Nặng hơn thì họ có ý định tự sát và hành vi tự sát. Họ nghĩ rằng bệnh mình nặng và họ bi quan về tương lai nên dễ tìm đến cái chết để tự giải thoát cho mình.
i. Rối loạn giấc ngủ. Đa số bệnh nhân trầm cảm có triệu chứng mất ngủ. Bệnh nhân thường mất ngủ giữa giấc. nghĩa là tỉnh ngủ vào ban đêm và khó ngủ lại được. Mất ngủ là triệu chứng làm người bệnh suy sụp nhanh nhất và cũng là lý do để họ đi khám bệnh. Họ thấy đêm rất dài và những suy nghĩ miên man xuất hiện trong họ như một mối bòng bong. Và những suy nghĩ tiêu cực thường xuất hiện trong những đêm dài trằn trọc… Hiếm gặp hơn có bệnh nhân trầm cảm thì lại ngủ nhiều họ có thể ngủ từ 10 đến 12 tiếng mỗi ngày. Nhưng khi ngủ dậy họ thường rất uể oải, mệt mỏi.
k. Ăn uống không ngon miệng. Đa số bệnh nhân trầm cảm mất cảm giác ngon miệng, họ ăn rất ít. Nhiều bệnh nhân đến bữa ăn đối với họ là một gánh nặng, mặc dù đã rất cố gắng nhưng họ vẫn ăn được rất ít. Có khoảng 5% bệnh nhân trầm cảm lại tăng cảm giác ngon miệng, họ ăn nhiều hơn hàng ngày và tăng cân.


3. Nguyên nhân gây bệnh trầm cảm
- Tự phát
- Sang chấn tâm lí
- Mắc bệnh mãn tính
4. Bệnh sinh

Do giảm chất dẫn truyền thần kinh serotonin. Khi định lượng chất dẫn truyền thần kinh serotonin  huyết tương ở bệnh nhân trầm cảm các tác giả  thấy rẳng nồng độ của chất này là 5,93 ng/ml. Trong khi ở người bình thường là 214 ng/ml.
5. Các thể bệnh lâm sàng của trầm cảm
5.1. Trầm cảm ẩn (Trầm cảm che giấu
- Marked Depression)
Những triệu chứng của  trầm cảm che giấu (trầm cảm ẩn) biểu hiện bệnh bằng các triệu chứng cơ thể như đau ống tiêu hóa, bệnh nhân hay đi khám xét về dạ dầy, đại tràng nhiều lần nhưng không phát hiện ra tổn thương ống tiêu hóa. Bệnh nhân đau vùng trước tim, cảm giác đau rất mơ hồ ở ngực trái và bệnh nhân đã đi khám tim mạch như siêu âm tim, điện tim nhưng kết quả tim mạch hoàn toàn bình thường. Bệnh nhân đau xương, đau cơ, đau bả vai, đau tiết niệu đau sinh dục… cảm giác đau thường mơ hồ, không cố định không đặc trưng cho cơ quan nào. Bệnh nhân rất lo lắng về bệnh tật, luôn đi khám và điều trị ở nhiều chuyên khoa khác nhau như tim mạch, tiết niệu, tiêu hóa, thần kinh, xương khớp nhưng bệnh không thuyên giảm với những điều trị đặc hiệu của những chuyên khoa này. Dần dần người bệnh mất niềm tin vào thầy thuốc, mặc dù trong lòng rất lo lắng và rất muốn đi chữa bệnh. Trầm cảm che giấu ( trầm cảm ẩn) tuy triệu chứng rất đa dạng và khó nhận biết nhưng khi đã được bác sĩ chuyên khoa thăm khám và phát hiện ra bệnh thì vấn đề điều trị cũng không quá phức tạp.
5.2. Trầm cảm có loạn thần (trầm cảm paranoid).
Đây là một thể trầm cảm nặng. Cùng với những triệu chứng của trầm cảm đã mô tả ở trên bệnh nhân còn có hoang tưởng và ảo giác kèm theo. Bệnh nhân thường có hoang tưởng nghi bệnh và hoang tưởng tự buộc tội.
5.3. Trầm cảm ở người cao tuổi. ở người cao tuổi trầm cảm có thể kèm theo rối loạn nhận thức. Như rối loạn chú ý, rối loạn trí nhớ. Bệnh nhân thường quên nhiều đặc biệt là quên những sự việc mới xẩy ra (giảm trí nhớ gần), còn gọi là mất trí giả. Khi bệnh nhân được điều trị thì trí nhớ hồi phục hoàn toàn. Bệnh nhân có thể có hoang tưởng nghi bệnh, họ cho rằng mình bị bệnh nặng, bệnh nan y như ung thư, xơ gan, bệnh tim mạch nặng…
5.4. Trầm cảm ở người vị thành niên.
Theo tổ chức y tế thế giới lứa tuổi vị thành niên là từ 10-19 tuổi.
Các triệu chứng trầm cảm ở người vị thành niên cũng giống như người lớn nhưng có một vài điểm khác biệt sau.
+ Cảm xúc thường bị kích thích (chứ không trầm) vẻ mặt bệnh nhân cáu giận.. Khả năng kiềm chế cảm xúc rất thấp vì vậy rất dễ nổi khùng trước một kích thích không vừa ý dù là rất nhỏ.
+ Mất ngủ nhiều, có thể thức trắng đêm nên bệnh nhân dễ lạm dụng game, internet. Người bệnh thường lang thang trên mạng suốt đêm.
+ Mệt mỏi thường xuyên.
+ Khó tập trung chú ý, trí nhớ kém vì vậy học hành thường giảm sút.
+ Hay có ý định và hành vi tự sát.
6. Chẩn đoán. Khi bệnh nhân có từ 5 triệu chứng được mô tả ở trên và kéo dài trong 2 tuần lễ thì bệnh nhân được chẩn đoán là trầm cảm. Nhưng nếu bệnh nhân có ý tưởng và hành vi tự sát thì thời gian không cần đến 2 tuần.


Rối loạn dạng cơ thể
Rối loạn stress

Rối loạn lo âu
Rối loạn ám ảnh cưỡng bức
Phòng khám tâm thần

Liên hệ ThS.Bs: Đinh Hữu Uân ĐT 0913511475